Thứ Bảy, 29 tháng 9, 2012

PHẢI CHI.... - Vũ Miên Thảo




dạt trôi về phía doi đời
nửa say ngây ngất, nửa bồi hồi đau
phải trăng đừng rụng xuống cầu
tình không là nửa, có đâu tôi buồn!


phải chiều đừng rưng rức sương
tôi đừng ướt mắt...
môi hờn môi xa
phải chi đừng có người ta...! 
VMT    5-2011

Thứ Sáu, 28 tháng 9, 2012

ANH VẪN Ở BÊN HỒ TÂY - Phạm Ngọc Thái



Tình để lại vết thương không lành được 
Soi mặt hồ in mãi bóng thời gian
Em hiền dịu trái tim từng tha thiết
Người con gái anh yêu nay hóa khói sương tan.


Ta cũng già rồi, em ơi! Vết thương còn đau buốt
Hạnh phúc qua như một cánh chim bay
Nông nỗi đời người để đâu cho hết
Tình thơ ngây! Tình sao mãi thơ ngây!

Nhớ buổi đón em cổng trường sư phạm
Đôi mắt từ xa đã nhận ra người...
Tình yêu có cái nhìn trong linh cảm
Giờ ở đâu, người con gái xa xôi?

Thế đó, em ơi! Tình qua không trở lại
Xế chiều rồi mà máu tim chảy mãi không thôi
Em có nghe gió Tây Hồ đang thổi
Anh ở đây, vẫn bên hồ Tây mây trôi... 
PNT


LNT đề xuất

Thứ Năm, 27 tháng 9, 2012

Chiều - Bùi Giáng



Em ngó buổi chiều buồn có phải
Buồn cũng như buồn những buổi chiều xưa
Tròng con mắt đã mỏi mòn có phải
Sắc của trời hương của đất lưa thưa 

Những nhịp bước bên đường còn dội mãi
Vang về đâu không vọng lại hồi âm
Của réo rắt riêng một lần mãi mãi
Gió phương trời ù mộng giữa hoa tâm

Em hỏi mãi tuy biết lời đáp lại
Chẳng bao giờ thoả đáng giữa đời câm
Em ngó mãi những chiều về trở lại
Mang những gì về trong cõi trăm năm

B.G

Anh Sương đề xuất

Thứ Hai, 24 tháng 9, 2012

Nghe em vào đại học


Nghe em vào đại học
Nửa tin nửa ngờ tên lại trùng tên
Hôm nay nhận được thư em.
Nét chữ nghiêng nghiêng cười trên giấy trắng
Anh ngồi đây thấy trời hửng nắng
Trên Hồ Gươm và trên mái đầu em
Ngọn gió quê hương sông rạch dịu hiền.



Miền Nam em ơi còn nhớ
Kháng chiến năm nào gian khổ
Đồn giặc bủa vây thôn xóm điêu tàn
Trường giặc đốt rồi còn lại ánh trăng
Giữa hai trận càn anh dạy em học chữ
Mẩu than đen vẽ lên tường gạch đỏ
Những lá cờ sao bên những vòng tròn
Đầu nghiêng nghiêng theo nét chữ run run
Có những buổi em học bài không thuộc
Anh không mắng nhưng em buồn em khóc
Thương em anh cố dỗ dành
Gắng học sau này cho được bằng anh
Để chép bài ca đọc thông tin tức
Ôi mơ ước tầm thường đơn giản nhất
Sao ngày xưa vẫn quá lớn em ơi


Bài ca hôm nay em chép được rồi
Không phải bài đoàn quân đi thuở trước
Anh chưa bước chân vào trường đại học
Chưa lên giảng đường chưa mặc áo sinh viên
Không biết vì sao ngày, tối tiếp liền
Chưa biết quê ta nơi nào nhiều quặng
Giặc dành cho ta nhà tù bom đạn
Bảy năm rồi trong khói lửa đấu tranh
Thầy giáo dạy em năm trước học vần
Vẫn chưa vượt quá chương trình cấp một
Vẫn chật vật với những bài số học
Thư viết cho em phải xóa sửa mấy lần
Anh không buồn vì anh biết em anh
Đang ngồi thay anh dưới mái trường đại học
Mai này nước nhà thống nhất
Em lại về dạy chữ cho anh
Không phải bằng than vẽ nguệch ngoạc thềm đình
Không phải phập phồng giữa vòng đai giặc
Em sẽ bảo anh cố lên gắng học
Anh sẽ mỉm cười nhớ những đêm trăng


Chế độ cho em đôi cánh chim bằng
Và vinh dự được làm người đi trước
Anh sẽ để riêng một đêm thức suốt
Kể cho em nghe chuyện chiến đấu miền Nam
Câu chuyện mở đầu thuở ấy ở quê hương
Anh chỉ học có một trường cách mạng.

GN

Chủ Nhật, 23 tháng 9, 2012

Cô Hàng Xóm - Nguyễn Bính


Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
Cách nhau cái dậu mùng tơi xanh rờn
Hai người sống giữa cô đơn
Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi 

Giá đừng có dậu mùng tơi
Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng
Tôi chiêm bao rất nhẹ nhang..
Có con bướm trắng thường sang bên này

Bướm ơi! Bướm hãy vào đây!
Cho tôi hỏi nhỏ câu này chút thôi ...
Chả bao giờ thấy nàng cười,
Nàng hong tơ ướt ra ngoài mái hiên

Mắt nàng đăm đắm trông lên..
Con bươm bướm trắng về bên ấy rồi!
Bỗng dưng tôi thấy bồi hồi,
Tôi buồn tự hỏi : Hay tôi yêu nàng

- Không, từ ân ái lỡ làng
Tình tôi than lạnh, tro tàn làm sao ?
Tơ hong nàng chả cất vào
Con bươm bướm trắng hôm nào cũng sang

Mấy hôm nay chẳng thấy nàng
Giá tôi cũng có tơ vàng mà hong
Cái gì như thể nhớ mong
Nhớ nàng. Không! Quyết là không nhớ nàng!

Vâng, từ ân ái lỡ làng
Lòng tôi riêng nhớ bạn vàng ngày xưa .
Tầm tầm trời cứ đổ mưa
Hết hôm nay nữa là vừa bốn hôm

Cô đơn buồn lại thêm buồn
Tạnh mưa bươm bướm biết còn sang chơi?
Hôm nay mưa đã tạnh rồi!
Tơ không hong nữa, bướm lười không sang

Bên hiên vẫn vắng bóng nàng
Rưng rưng.. tôi gục xuống bàn rưng rưng..
Nhớ con bướm trắng lạ lùng!
Nhớ tơ vàng nữa, nhưng không nhớ nàng

Hỡi ơi! Bướm trắng, tơ vàng!
Mau về mà chịu tang nàng đi thôi!
Đêm qua nàng đã chết rồi
Nghẹn ngào tôi khóc.. quả tôi yêu nàng

Hồn trinh còn ở trần gian
Nhập vào bướm trắng mà sang bên này.

NB

Thứ Bảy, 22 tháng 9, 2012

Xuân chiến khu - Huỳnh Văn Nghệ



Xuân vẫn về đây giữa chiến khu
Rừng thiêng nay bỗng hết âm u
Núi non hớn hở thay màu áo
Suốt biếc ngân reo chuỗi hạt châu


Ánh sáng tưng bừng trên lá non
Chim đồi mát giọng hát vén von
Xa xa vọng gác thùng nhịp trống
Bướm giật mình bay: những mảnh hồn

Chiếc sĩ từng đoàn dưới nắng tươi 
Bên hoa ngồi kể chuyện, nô cười:
“- Xuân sau ăn tết nơi đâu nhỉ?
- Tùy bóng cờ kia sẽ trả lời”. 

Phấp phới cờ bay dưới gió xuân
Quân ca từng khúc nhịp xa, gần 
Từng đoàn chiến sĩ đi ra trận
Có bướm chim đưa tận núi rừng.


HVN

Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2012

Bác ơi - Tố Hữu



Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa...
Chiều nay con chạy về thăm Bác
Ướt lạnh vườn rau mấy gốc dừa!

Con lại lần theo lối sỏi quen
dến bên thang gác đứng nhìn lên
Chuông ôi chuông nhỏ còn reo nữa?
Phòng lặng, rèm buông tắt ánh đèn!

Bác đã đi rồi sao, Bác ơi!
Mùa thu đang đẹp, nắng xanh trời
Miền Nam đang thắng mơ ngày hội
Rước Bác vào thăm, thấy Bác cười!

Trái bưởi kia vàng ngọt với ai
Thơm cho ai nữa, hỡi hoa nhài!
Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm
Quanh mặt hồ in mây trắng bay...

Ôi phải chi lòng được thảnh thơi
Năm canh bớt nặng nỗi thương đời
Bác ơi, tin Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông, mọi kiếp người.

Bác chẳng buồn đâu, Bác chỉ đau
Nỗi đau dân nước nỗi năm châu
Chỉ lo muôn mối như lòng mẹ
Cho hôm nay và cho mai sau...

Bác sống như trời đất của ta
Yêu từng ngọn lúa, mỗi nhành hoa
Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già.

Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà
Miền Nam mong Bác, nỗi mong cha
Bác nghe từng bước trên tiền tuyến
Lắng mỗi tin mừng tiếng súng xa.

Bác vui như ánh buổi bình minh
Vui mỗi mầm non, trái chín cành
Vui tiếng ca chung hòa bốn biển
Nâng niu tất cả, chỉ quên mình.

Bác để tình thương cho chúng con
Một đời thanh bạch chẳng vàng son
Mong manh áo vải, hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng phơi những lối mòn.
*
Ôi Bác Hồ ơi, những xế chiều
Nghìn thu thương nhớ biết bao nhiêu!
Ra đi, Bác dặn: "Còn non nước..."
Nghĩa nặng, lòng không dám khóc nhiều.

Bác đã lên đường, nhẹ bước tiên
Mác-Lê-nin, thế giới Người Hiền
Ánh hào quang đỏ thêm sông núi
Dắt chúng con cùng nhau tiến lên!

Nhớ đôi dép cũ nặng công ơn
Yêu bác, lòng ta trong sáng hơn 
Xin nghuyện cùng Người vươn tới mãi
vững như muôn ngọn dải Trường Sơn.

6-9-1969

Thứ Tư, 19 tháng 9, 2012

LỆ ĐÁ XANH - Thanh Tâm Tuyền



Tôi biết những người khóc lẻ loi
không nguôi một phút
những người khóc lệ không rơi ngoài tim mình
em biết không
lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi
 
đôi khi anh muốn tin
ngoài đời chỉ còn trời sao là đáng kể
mà bên những vì sao lấp lánh đôi mắt em
đến ngày cuối
đôi khi anh muốn tin
ngoài đời thơm phức những trái cây của thượng đế
mà bên những trái cây ngọt ngào đôi môi em
nguồn sữa mật khởi đầu
đôi khi anh muốn tin
ngoài đời đầy cỏ hoa tinh khiết
mà bên cỏ hoa quyến rũ cánh tay em
vòng ân ái
đôi khi anh muốn tin

ôi những người khóc lẻ loi một mình
đau đớn lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi
T.T.T






















Thứ Ba, 18 tháng 9, 2012

Tự tình - Nguyễn Văn Tài



Đời đưa ta lên
Đời đưa ta xuống
Như chiềc xích đu cót-két hiên nhà
Đôi khi ta thấy mình đang sống
Giữa thăng trầm, chìm nổi, phong ba…
Đời xui ta thương
Đời xui ta ghét
Trước bao nhiêu thiện- ác thường ngày
Đôi khi ta thấy mình cạn hết
Mấy quân bình, cân đối chua cay.
Tình đời đeo nặng hai vai
Bể dâu – mỗi lúc ngồi say một mình
Tỉnh tâm, quyết chọn cái tình
Dại khôn, khôn dại ta giành ta ngu !

 
N.V.T
Thu Sương đề xuất
 

Chủ Nhật, 16 tháng 9, 2012

Phấn son - Vũ Anh Khanh



gởi Kim Chi (*)
Ai điểm trang mà em phấn son?

Nắng ngày chưa ngã hoa tàn rụng
Bụi chiếm kinh thành tủi lá non
Thế thân lạc lõng bờ niên thiếu
Trán thẹn mây cao nợ chửa tròn

Tuổi trời dệt mộng trong thành cũ
Nhớ vạn người đi dạ sắc son
Nhịp đời ngơ ngác rung rinh sóng
Phơ phất đào xuân, mai héo hon

Mắt vương tóc mướt người con gái
Khép nép hài trinh lối cỏ mòn
Ngại ngùng muốn bảo vào tai nhỏ:
Ai điểm trang mà em phấn son?

Trâm vàng lỏng khỏng trêu tình bướm,
Áo trắng an ninh giữa lũy đồn
Đành quên những kẻ ngoài sương gió
Kiếm vạch tim sâu viết chữ Hờn

Nghe chăng cô gái đô thành nội?
Chinh chiến ba năm trống dập dồn
Cờ son phất gió ngoài quan ải
Xuân đến thanh bình, xuân đến luôn

Ngàn mây nhè nhẹ trôi duyên dáng
Dặm trắng rừng mai, máu đỏ ngòm
Bóng ai múa giáo ngoài sương gió?
Nhắn hỏi giùm xem biết mất còn

Hỡi cô gái khép đôi tà áo
Xuân nhật đăng lâu vọng cố nhân
Chàng trai phong nhã ngày xưa ấy
Đã bỏ tình riêng theo nước non

Bẽ bàng soi sắc gương Tư Mã:
Ai điểm trang mà em phấn son?
Làm sao nghe nhạc biên thùy nhỉ?
Đỡ nhớ lòng nhau, bớt mõi mòn

Hương dâng bẻo lẻo chim trời hót
Pháo tịt ngòi xuân, súng nổ giòn
Quê hương lạnh rợi mùa binh lửa
Muôn vạn người đi dạ sắc son

Nghe chăng cô gái đô thành nội?
Áo trắng an ninh giữa lũy đồn
Xuân sang rấm rức sầu quê tổ
Ai điểm trang mà em phấn son?


(*) Bài này tác giả làm tặng cô Kim Chi là con một chủ tiệm vàng
ở chợ Bến Thành thời bấy giờ, trong khi đang đi kháng chiến chống Pháp

** Vũ Anh Khanh - Cây bút hàng đầu của dòng văn chương tranh đấu miền Nam 1945-1954

Thứ Bảy, 15 tháng 9, 2012

BÍ MẬT CUỐI CÙNG VỀ T.T.KH - Trần Đình Thu


Những ngày này, câu chuyện tình nổi tiếng trong lịch sử văn học “Hai sắc hoa ti gôn” chuẩn bị được dựng thành phim thì nghi  án “Ai là T.T.KH” lại sống dậy. Nhà báo Trần Đình Thu là tác giả của cuốn sách nổi tiếng “Giải mã nghi án văn học T.T.KH” đã dành riêng cho Báo ĐS&PL một bài viết, kể về những điều chưa có trong sách cũng như trong các bài phỏng vấn của anh trước đây.
Trần Đình Thu

*Tôi không phải là T.T.Kh

Cuối năm 2004, tôi viết xong bản thảo cuốn sách “Giải mã nghi án văn học T.T.Kh”. Tôi vui mừng gửi ngay bản thảo cho anh Đào Hiếu, biên tập viên Nhà xuất bản Trẻ để anh ấy chuẩn bị in thành sách. Lúc đó tôi là cộng tác viên khá thân thiết của nhà xuất bản này, đã in mấy đầu sách theo diện kế hoạch A ở đây rồi. Anh Đào Hiếu đọc xong bản thảo cuốn sách, mời tôi đến nhà xuất bản, nói: “Cuốn sách này không in được ông à”. Tôi hỏi anh lý do vì sao, anh trả lời: “Khi đọc phần đầu, là phần giải mã của ông, tôi tin chắc một trăm phần trăm bà Trần Thị Vân Chung đúng là T.T.Kh. Nhưng khi đọc qua phần phụ lục, tới bức thư của bà Trần Thị Vân Chung gửi báo giới thì tôi tin chắc một trăm phần trăm bà Trần Thị Vân Chung không phải là T.T.Kh. Do đó tôi quyết định đề nghị ban giám đốc không in cuốn sách này của ông”.

Chờ anh Hiếu nói xong, tôi phân tích: “Tôi làm nghiên cứu nên rất tôn trọng sự thật khách quan. Vì thế mà tôi đưa bức thư vào. Nếu tôi có ý này khác, trong bản thảo của tôi, tôi lờ đi bức thư của bà Trần Thị Vân Chung, không đưa nó vào phần phụ lục, thì chắc chắn bây giờ anh đã “tin chắc một trăm phần trăm” bà Trần Thị Vân Chung chính là T.T.Kh và cho in ngay cuốn sách này mà không có ý kiến thắc mắc gì. Tôi xin anh, anh hãy in cuốn sách đi, tôi tin cuốn sách của tôi có khả năng làm sáng tỏ một nghi án văn chương vốn quá tù mù lâu nay”.
          Vậy bức thư của bà Trần Thị Vân Chung thế nào mà làm đổ toàn bộ phần giải mã của tôi phía trước? Tôi xin ngừng lại một chút để nhắc lại sự ra đời của bức thư này. Quãng giữa năm 1994, ông Thế Phong cho xuất bản một cuốn sách có tựa là “T.T.Kh nàng là ai?”. Cuốn sách đã làm nổ tung dư luận khi đưa ra một “ứng viên sáng giá” vào vị trí T.T.Kh: bà Trần Thị Vân Chung. Trước khi cuốn sách này ra đời, những người được xếp vào diện nghi vấn T.T.Kh toàn là đàn ông như Nguyễn Bính, Thâm Tâm...

            Vài tuần sau khi cuốn sách phát hành, đặc san Văn Hóa của Bộ Văn Hóa cùng với báo Thanh Niên đồng loạt đăng tải bài phân tích cuốn sách. Báo Thanh Niên thì chủ yếu đăng bài phê phán còn đặc san Văn Hóa thì ủng hộ. Dư luận xôn xao quá khiến con cháu bà Vân Chung ở Sài Gòn gọi điện sang Pháp thông tin cho bà. Một thời gian sau, từ Pháp, bà Trần Thị Vân Chung có thư ngỏ gửi cho báo giới trong nước. Đó chính là bức thư tôi nhắc ở trên. Bức thư từ đầu đã phang ngay một câu làm nản lòng tất cả những ai muốn tin bà Trần Thị Vân Chung chính là T.T.Kh. Bức thư viết: Điều trước nhất tôi xin thưa: “Tôi không phải là T.T.Kh!”.

Chính cái câu này mà trong vòng 10 năm sau đó, từ 1994 đến 2004, giới yêu thơ không ai còn hứng thú nhắc đến cái tên bà Trần Thị Vân Chung khi đề cập về nghi án T.T.Kh. Cũng chính cái câu này mà anh Đào Hiếu từ chối in cuốn sách của tôi. Thì bởi vì, chính bà ấy đã tuyên bố thế cơ mà!

Thế mà lạ lùng thay, khi lật lại tư liệu, “giám định” các bài thơ rồi lấy kết quả so sánh với các “nghi can”, tôi thấy rằng không ai phù hợp với T.T.Kh hơn bà Trần Thị Vân Chung. Điều này khiến chính tôi cũng thắc mắc: Vậy thì, hà cớ gì mười năm trước, bà Trần Thị Vân Chung nhảy bổ ra la làng “Tôi không phải là T.T.Kh”?

*Chung quanh bức thư

          Có rất nhiều độc giả chất vấn tôi, nếu ông cho rằng bà Trần Thị Vân Chung chính là T.T.Kh, tại sao khi ông Thế Phong in cuốn sách, bà ấy đã không nhận mình thì thôi, ngược lại còn phản đối? Trong cuốn sách của tôi, ở phần giải mã, tôi đưa ra các tiêu chí về người có thể là T.T.Kh thế này: Thứ nhất, T.T.Kh phải là một người phụ nữ. Thứ hai, T.T.Kh phải là người thân thiết với nhà văn Thanh Châu, cụ thể hơn người đó phải là người yêu của nhà văn Thanh Châu. Nay tôi nghĩ, sau này nếu tái bản có sửa chữa, chắc tôi phải đưa thêm một tiêu chí nữa: T.T.Kh phải là người có thể nhảy bổ ra la làng mình không phải là T.T.Kh nếu có ai đó nói mình chính là T.T.Kh.  
         
          Khi cuốn sách “Giải mã…” của tôi in ở Nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn sau đó, rút kinh nghiệm từ vụ biên tập viên Nhà xuất bản Trẻ từ chối bản thảo, tôi viết thêm một phần ngắn, phân tích lý do tại sao bà Trần Thị Vân Chung viết thư phản đối, tuyên bố thẳng mình không phải là T.T.Kh. Xin trích một đoạn: “T.T.Kh không bao giờ làm cái việc đứng ra nhận mình đâu. Không nhận mình thì mới đúng là T.T.Kh. Chứ còn bây giờ giả sử có người nào đó đứng ra nhận mình là T.T.Kh thì tôi có thể nói ngay rằng đó chắc chắn không phải là T.T.Kh”.   

Khi viết cuốn sách, tôi có đến gặp bà Thư Linh để tìm kiếm tư liệu. Bà Thư Linh là bạn của bà Trần Thị Vân Chung. Cuốn sách của ông Thế Phong cốt lõi là dựa vào lời kể của bà Thư Linh. Trong một bữa đám giỗ ở nhà bà Thư Linh, có người kể vừa mới gặp T.T.Kh ngoài Bắc, T.T.Kh giờ già yếu lắm rồi. Bà Thư Linh nghe thế bức xúc quá, cãi lại T.T.Kh làm gì mà ở ngoài Bắc, T.T.Kh đang ở Pháp mà! Xong bà tiết lộ luôn câu chuyện bà Trần Thị Vân Chung từng tâm sự với bà thế nào. Ông Thế Phong thu nhặt tư liệu từ bữa giỗ đó, viết thành cuốn sách “T.T.Kh nàng là ai?”. Cho nên vào năm 1994, song song với việc gửi thư ngỏ cho báo giới, bà Trần Thị Vân Chung còn gửi một thư riêng cho bà Thư Linh (khi có điều kiện tôi sẽ phân tích các thư này trong một bài báo). Bức thư trách móc bà Thư Linh nặng nề. Bà Thư Linh cho biết, kể từ năm 1994, sau bức thư đó của bà Vân Chung gửi từ Pháp về, bà Vân Chung tuyệt giao với bà Thư Linh luôn. Vì thế tôi đặt vấn đề: Không phải là T.T.Kh thì thôi chứ làm gì mà bức xúc đến mức độ phải tuyệt giao với một người bạn cũ của mình. Chỉ cần nói một câu ngắn gọn, quý vị nhầm rồi, tôi không phải là T.T.Kh là đủ.

Trong cuốn sách “Giải mã…”, tôi có phân tích tính cách của T.T.Kh để so sánh với tính cách của bà Trần Thị Vân Chung: “Tôi nhớ lại những câu thơ của T.T.Kh thuở xưa cũng nặng nề u ám như thế. Chẳng hạn như câu thơ “Là giết đời nhau đấy biết không/Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung...”. Độc giả có thấy rằng, nếu bà Thư Linh chỉ phạm “cái tội” như bà Vân Chung nói là “vu khống” cho bà là T.T.Kh trong khi bà không phải là T.T.Kh thì “cái tội” ấy có gì nghiêm trọng đâu. Người ta nói mình là T.T.Kh chứ có nói gì xúc phạm danh dự nhân phẩm đâu mà phải giận dữ ghê thế! Sự giận dữ trong bức thư này thực tế vượt ra ngoài ranh giới bình thường. Nó cho thấy chỉ có bà Thư Linh phạm vào những “cái tội” như vi phạm lời thề không tiết lộ thân phận của bà Vân Chung chẳng hạn thì mới có sự giận dữ như vậy”.

Năm 1994, cuốn sách của ông Thế Phong tiết lộ rõ, nhà văn Thanh Châu chính là người yêu của bà Trần Thị Vân Chung, tức người yêu của T.T.Kh. Sau năm 1975, ông Thanh Châu vào Sài Gòn lang thang nơi này qua nơi khác để tìm thăm bà Vân Chung. Khi vụ việc gây xôn xao dư luận, trong thư ngỏ của mình, bà Trần Thị Vân Chung phủ nhận luôn mối quan hệ yêu đương với ông Thanh Châu. Điều này khiến tôi bối rối hết sức. Vì kết quả giải mã của tôi cho thấy: T.T.Kh phải là người yêu của nhà văn Thanh Châu, tác giả của truyện ngắn Hoa ti gôn in trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy vào năm 1937. Tôi quyết định kiểm chứng bằng cách đến gặp ông Thanh Châu để hỏi thẳng. Tôi dự tính, chỉ cần ông Thanh Châu thừa nhận ông và bà Trần Thị Vân Chung yêu nhau là đủ, không cần ông ấy phải thừa nhận Trần Thị Vân Chung chính là T.T.Kh. Tôi rủ nhà văn Nguyễn Khoa Đăng đi theo để làm chứng cho cuộc “thẩm định lịch sử” này. Tại nhà ông Thanh Châu, tôi đã gí sát máy ghi âm vào ông và hỏi đến ba lần. Ông Thanh Châu cũng xác nhận đến ba lần, bà Vân Chung chính là người yêu của ông. Thế là đủ. Nhưng tôi có máu tham, hỏi thêm một câu, bà Trần Thị Vân Chung có phải là T.T.Kh không thì ông lắc đầu nguầy nguậy. Tôi thì đã lường trước nên coi đây là chuyện bình thường, nhưng nhà văn Nguyễn Khoa Đang lại thất vọng. Về nhà, tôi giải thích với anh: chờ đợi câu trả lời Trần Thị Vân Chung chính là T.T.Kh là một tham vọng quá lớn. Không thể có lời xác nhận này. Vì câu thơ thuở xưa đã viết: “Cố quên đi nhé câm mà nín”. Người ta đã thề thốt thế rồi, làm sao tiết lộ?

Ông Thanh Châu nay đã về cõi vĩnh hằng, bà Vân Chung nếu còn sống cũng đã quá lớn tuổi. Không còn ai đứng ra để khẳng định hay phủ định. Nhưng tôi tin rằng, chỉ có người không nhận mình là T.T.Kh mới có thể là T.T.Kh.
                                                                                                                                 TĐT

Nguồn binhchonthohay.com