Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2012

Bài học đầu cho con - Đỗ Trung Quân




Quê hương là gì hả mẹ
Mà cô giáo dạy hãy yêu?
Quê hương là gì hả mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều?


Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay

Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông

Quê hương là cầu tre nhỏ
Mẹ về nón lá nghiêng che
Là hương hoa đồng cỏ nội
Bay trong giấc ngủ đêm hè

Quê hương là đêm trăng tỏ
Hoa cau rụng trắng ngoài thềm
Tiếng ếch râm ran bờ ruộng
Con nằm nghe giữa mưa đêm

Quê hương là bàn tay mẹ
Dịu dàng hái lá mồng tơi
Bát canh ngọt ngào tỏa khói
Sau chiều tan học mưa rơi

Quê hương là vàng hoa bí
Là hồng tím giậu mồng tơi
Là đỏ đôi bờ dâm bụt
Màu hoa sen trắng tinh khôi

Quê hương mỗi người đều có
Vừa khi mở mắt chào đời
Quê hương là dòng sữa mẹ
Thơm thơm giọt xuống bên nôi

Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người.

Đỗ Trung Quân


Quê Hương - Ngọc Yến

Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2012

Quê Hương - Giang Nam



Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường
Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:
"Ai bảo chăn trâu là khổ?"
Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao
Những ngày trốn học
Đuổi bướm cầu ao
Mẹ bắt được...
Chưa đánh roi nào đã khóc!
Có cô bé nhà bên
Nhìn tôi cười khúc khích...


***
Cách mạng bùng lên
Rồi kháng chiến trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Từ biệt mẹ tôi đi
Cô bé nhà bên - (có ai ngờ!)
Cũng vào du kích
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!)
Giữa cuộc hành quân không nói được một lời
Đơn vị đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại...
Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi...

***

Hoà bình tôi trở về đây
Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày
Lại gặp em
Thẹn thùng nép sau cánh cửa...
Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng...

Hôm nay nhận được tin em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc bắn em rồi quăng mất xác
Chỉ vì em là du kích, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết nửa con người!

Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn roi...
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của em tôi

Giang Nam
1960 


Thơ Ý giới thiệu

Thứ Sáu, 24 tháng 8, 2012

Đợi khách - Nguyên Sa




Em đứng lẫn bên góc hè phố vắng

Như loài hoa hoang dại trong rừng sâu

Màu da tơ bóng tối ngả u sầu

Đôi mắt đẹp từng cánh sao tắt lịm

Em đứng đợi một người không hẹn đến

Bán cho người tất cả những niềm vui

Chút tình hoa còn lại thoáng hương phai

Em dâng cả làn môi khô nước ngọt

Trong đêm mỏi hàng mi mờ khẽ ướt

Má phai duyên trên gối đẫm thẹn thùng

Ấp mặt bên người lạ, lạnh mênh mông

Bàn tay nhỏ thẫn thờ như lạc lõng

Em đứng lẫn bên góc hè phố vắng

Nghe đêm tàn làm lạc khách tìm vui

Đôi tiếng giầy khua vắng tắt xa xôi

Làm vỡ nốt cả đôi niềm tin tưởng

Người khách lạ đêm lạc loài không chọn hướng

Bước đảo say làm vỡ nát màu trăng

Em chờ mong như đợi một âm thầm

Tình sầu tủi pha chút men rượu cặn

Đã lâu rồi vết thời gian trĩu nặng

Từ lần đầu bàn tay trắng đàn mơ

Nhận tiền cho bên nếp gối chăn thừa

Em đã khóc, lòng hoa sầu nát nhụy

Đêm gần tàn em ơi người gái đĩ

Đợi trong khuya, bến vắng ngủ say rồi

Nhìn ánh đèn vương lại cửa nhà ai

Rồi kéo vội khăn quàng trên vai lạnh…

Thứ Ba, 21 tháng 8, 2012

Ấm mãi lời ru - Trúc Thanh Tâm


                  Xem hình
                  Giữ trong đời cái chân chất yêu thương
                  Như gió chiều quê ôm lời ru mát rượi
                  Mẹ ta đó bộn bề trăm nỗi
                  Áo sờn vai nuôi ta lớn nên người!


                  Tôi vào đời lời ru mãi trong tôi
                  Thêm nghị lực trên bước đường đi tới
                  Tôi xa xứ mang lời ru chan chứa
                  Chợt bùi ngùi nhớ dáng mẹ già nua!

                  Lời mẹ ru đâu dễ phôi pha
                  Dẫu vết cắt thời gian làm tim tôi rỉ máu
                  Lời mẹ ru vượt ngàn giông bão
                  Đưa ta qua bến ấm cuộc đời!

                  Dẫn ta vào thời thơ ấu rong chơi
                  Để bay đến khoảng trời xanh mơ ước
                  Lời mẹ ru đồng lúa hương bát ngát
                  Tôi say sưa tắm mát nước sông đầy!

                  Chiếc cầu tre, vườn trái, cánh cò bay
                  Yêu biết mấy làng quê, chiều vương sợi khói
                  Men lối nhỏ vào đời, tôi chưa mỏi
                  Mỗi bước chân như dán chặt lời ru!

                  Đất nước ta qua hết cuộc mây mù
                  Đêm trăng sáng, giọng hò ai dìu dặt
                  Câu vọng cổ muồi tai ngây ngất
                  Không gian chìm trong nỗi nhớ chơi vơi!

                  Tôi nên người, nhớ mãi thuở nằm nôi
                  Dòng sữa mẹ chạy đều trong cơ thể
                  Hạnh phúc nhất khi mình còn mẹ
                  Được nghe lời trìu mến của cha !

                  Yêu quê hương, tình xứ sở, ruột rà
                  Bên ngôi trường nhỏ vang vang lời trẻ
                  Tôi nhìn lại tuổi thơ mình để nhớ
                  Lời ru buồn vượt mãi với thời gian!
                 T.T.T

Hoa Lý giới thiệu

Thứ Hai, 20 tháng 8, 2012

Thất Huyền Cầm - Bế Kiến Quốc


Không ai yêu mình đến trọn đời
Dây thứ hai
Nỗi đau thứ hai:
Không ai cho mình yêu trọn đời…
 
Có nỗi đau chẳng thốt nên lời
Nuốt vào trong ngực
Chôn sâu đáy mắt
Miệng cười đắng cay…
 
Tích tịch tình tang đàn bảy dây
Bao nỗi buồn thương trên cõi đất
 
Đỉnh núi vắng trắng vĩnh hằng tuyết buốt
Gió rít hoang lang bạt thảo nguyên
Có nỗi đau chính mình chẳng biết
Ngấm vào máu – rồi đàn nấc lên…
 
An-ma A-ta chiều mắt huyền
Thiếu nữ phương Đông đẹp xuất thần
Dừng em, dừng tay trên phím đàn!
Tôi sợ buồn thu thánh thót vang…
 
An-ma A-ta 1988 (Hà Nội 1992)

Chủ Nhật, 19 tháng 8, 2012

Nhớ Bắc - Huỳnh Văn Nghệ


Ai về Bắc ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.
Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng!
Mà ta con cháu mấy đời hoang
Vẫn nghe trong máu buồn xa xứ
Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương
Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ
Xem nhịp từng câu vọng cổ buồn
Vẫn thương vẫn nhớ mùa vải đỏ
Mỗi lần phảng phất hương sầu riêng.
Sứ mạng ngàn thu dễ dám quên
Chinh Nam say bước quá xa miền
Kinh đô nhớ lại xa muôn dặm
Muốn trở về quê, mơ cảnh tiên.

Huỳnh Văn Nghệ 
Chiến khu Đ 1946
Trong một ghi chép khác, tác giả ghi bài thơ là “Tiễn bạn về Bắc”, viết ở Sài Gòn năm 1940, có thêm một đoạn:
Ai đi về Bắc xin thăm hỏi
Hồn cũ anh hùng đất Cổ Loa
Hoàn Kiếm từ xưa linh quy hỡi
Bao giờ mang trả kiếm dân ta.

Thu Trâm giới thiệu

Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2012

Nhỏ bạn ngày xưa - Kha Tiệm Ly


Ngày lớn ròng hai lần con nước,
Mi nhỏ chưa cong, tóc nhò chưa dài.
Vú cau thẹn nằm sau áo ướt,
Ta nợ cái nhìn lúc tuổi mười hai!


Giã biệt nhỏ ta lên thành đi học,
Để nợ bãi bồi, để nợ dòng sông.
Không ai chọc, mà sao nhỏ khóc?
Làm bông bần rơi trắng mênh mông.!
 
Một hạ ta về thăm sông cũ,
Tóc búp bê, giờ óng ả mượt mà.
Đinh áo chẻ cao, khoe chút da trắng muốt,
Thêm một lần ta nợ áo bà ba!
 
Hàng rào thưa ngăn nhà ta, nhà nhỏ.
Mà xem như cách mấy dòng sông.
Ai giả bộ đem áo ra phơi gió,
Để nhìn nhau, má nhỏ ửng hồng hồng.
 
Theo lốc xoáy, ta thành thân viễn xứ,
Cây bần xưa buồn bã đón ta về.
Vắng ai đó bên dòng sông năm cũ,
Mấy bông bần theo gió rụng lê thê.
 
Mười tám tuổi, nhỏ tay bồng tay bế.
Bởi con bướm vàng đậu nhánh mù u.
Ta chết lặng, nhỏ nhìn ta ứa lệ,
Ta nợ nhỏ rồi, ánh mắt thiên thu!

           KTL

Thứ Sáu, 17 tháng 8, 2012

Nhà thơ Hữu Loan



Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan; Bút danh: Hữu Loan; sinh ngày 2 tháng 4 năm 1916 (theo lý lịch, còn có thông tin ông sinh năm 1914) tại quê ở làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa


Ông học thành chung ở Thanh Hóa sau đó đi dạy học và tham gia Mặt trận Bình dân năm 1936, tham gia Việt Minh ở thị xã Thanh Hóa (nay là thành phố Thanh Hóa). Năm 1943, ông về gây dựng phong trào Việt Minh ở quê và khi cuộc Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông làm Phó Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa huyện Nga Sơn. Trước năm 1945, ông đã từng là cộng tác viên trên các tập san Văn học, xuất bản tại Hà Nội. Sau Cách mạng tháng Tám, ông được cử làm Ủy viên Văn hóa trong Ủy ban hành chính lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính. Kháng chiến chống Pháp, Hữu Loan tham gia quân đội Nhân dân Việt nam, phục vụ trong Đại đoàn 304. Sau năm 1954, ông làm việc tại Báo Văn nghệ trong một thời gian. Trong thời gian 1956-1957, ông tham gia Phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm do nhà văn Phan Khôi chủ trương. Ông sáng tác những tác phẩm thường mang tính phản chiến và con người trong thời kỳ chiến tranh.
Sau khi phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị dập tắt vào năm 1958, nhà thơ Hữu Loan phải vào trại cải tạo vài năm, tiếp đó bị giam lỏng tại địa phương. Cuối đời ông về sống tại quê nhà.
Ông nổi tiếng với bài thơ Màu tím hoa sim do ông sáng tác trong thời gian tham gia kháng chiến chống Pháp và được lưu hành rộng rãi trong vùng kháng chiến . Có thông tin cho rằng, do nội dung bài thơ nặng nề tình cảm và ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý quân dân, nên ông bị giải ngũ.
Ông từ trần vào lúc 19h00 ngày 18 tháng 3 năm 2010 tại quê nhà, hưởng thọ 95 tuổi.

Thứ Năm, 16 tháng 8, 2012

Những Sợi Tơ Lòng - Chế Lan Viên


Tôi không muốn đất trời xoay chuyển nữa 
Với tháng ngày biền biệt đuổi nhau trôi 
Xuân đừng về ! Hè đừng gieo ánh lửa ! 
Thu thôi sang ! Đông thôi lại não lòng tôi ! 


Quả đất chuyển đây lòng tôi rung động 
Nỗi sầu tư nhuần thấm cõi Hư Vô ! 
Tháng ngày qua, gạch Chàm đua nhau rụng 
Tháp Chàm đua nhau đổ dưới trăng mờ ! 

Lửa hè đến ! Nỗi căm hờn vang dậy ! 
Gió thu sang thấu lạnh cả hồn thơ ! 
Chiều đông tàn, như mai xuân lộng lẫy 
Chỉ nói thêm sầu khổ với ưu tư ! 

Tạo hóa hỡi ! Hãy trả tôi về Chiêm Quốc ! 
Hãy đem tôi xa lánh cõi trần gian ! 
Muôn cảnh đời chỉ làm tôi chướng mắt ! 
Muôn vui tươi nhắc mãi vẻ điêu tàn ! 

Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh, 
Một vì sao trơ trọi cuối trời xa ! 
Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh 
Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo !


CLV

Thứ Tư, 15 tháng 8, 2012

ĐÊM ĐÔNG - MỘT BÀI THƠ CẢM ĐỘNG! Lời bình: LÊ BÁ DUY


ĐÊM ĐÔNG
TRƯƠNG THỊ HẰNG NGA

Đêm đông
Lạnh
Cầm cập run
Ngoài kia gió bấc,
mưa phùn rơi rơi
Lần tìm hơi ấm
người ơi!
Lòng nghe mặn chát,
tả tơi lệ nhòa

Tuột rồi.
Choàng mớ chăn hoa
Ủ cùng
đắp đổi
cho qua tháng ngày
Xa rồi.
Đâu hỡi vòng tay?
Xa rồi.
Đâu nữa nồng say
rượu tình!

Bây giờ
cô lẻ một mình
Cầm lòng sao đặng
khi bình minh lên?
TRƯƠNG THỊ HẰNG NGA


ĐÊM ĐÔNG - MỘT BÀI THƠ CẢM ĐỘNG!
Lời bình: LÊ BÁ DUY

Trong bốn mùa Xuân- Hạ-Thu - Đông, mùa nào cũng là đề tài cho thi sĩ làm thơ giải bày tâm trạng. Nhiều thi sĩ viết về mùa Xuân với nhiều cung bậc tình cảm; nhiều nhà thơ viết về mùa hạ với nỗi nhớ mong cháy lòng và cũng nhiều tác giả viết về mùa Đông với khát vọng yêu thương ấm áp chân thành. Tôi đã đọc không ít thơ viết trong mùa Đông, nhưng khi vào trang "Đất Đứng" đọc đến bài "Đêm đông" của tác giả trẻ Trương Thị Hằng Nga, tôi thật cảm động, và những cảm xúc ấy dâng trào ra mà khó có những ngôn từ diễn tả cho hết được!

Đêm đông
Lạnh
Cầm cập run
Ngoài kia gió bấc,
mưa phùn rơi rơi ...

Hai câu thơ mở đầu với thể lục bát tách ra 5 dòng gợi trường liên tưởng thời tiết se lạnh của thiên nhiên thường gặp vào mùa đông giá buốt! Chủ thể tiếp nhận cái lạnh thiên nhiên thấm vào da thịt, cầm cập, run rẩy đối lập với tự nhiên bên ngoài "gió bấc" thổi và "mưa phùn rơi rơi". Cái hình ảnh này chúng ta bắt gặp trong đời thường của biết bao người, nhưng đi vào trong thơ Hằng Nga tự nhiên như dòng chảy nhẹ nhàng mang cái buốt giá đêm đông. Trong cái lạnh của thiên nhiên, lẽ thường con người ta tự tìm đến cái ấm để chống chọi với cái rét khắc nghiệt của thời tiết. Do vậy câu thứ 3 và 4 ra đời như một lẽ tự nhiên vốn có: "Lần tìm hơi ấm người ơi! Lòng nghe mặn chát, tả tơi lệ nhòa..." Tại sao "mặn chát"? Tại sao "tả tơi lệ nhòa"? Phải chăng cảnh cô đơn đến xót xa của người phụ nữ khát khao hơi ấm không tìm được trong cái lạnh. Ngay cả trong cái chăn ấm người tìm ấp ủ "cho qua tháng ngày" cũng "tuột" ra ngoài. Nhường cho những hoài niệm, những dòng tâm trạng tuôn trào như dòng sông chảy về biển cả tình yêu ngọt- đắng:

Xa rồi. Đâu hỡi vòng tay?
Xa rồi. Đâu nữa nồng say - rượu tình!

Tình cảm con người thật kỳ lạ! Những người đang sống bên nhau thì có thể chưa nhận ra hạnh phúc cạnh mình cứ mãi kiếm tìm nơi chân trời góc bể, những người xa nhau mới cảm thấy hết nỗi cách xa thương nhớ, để tình thương yêu dâng lên với khát khao ấm áp! Thèm cụng nhau chén "rượu tình" chếnh choáng men say trong vòng tay say đắm, trao nhau yêu thương nghìn năm vốn có. "Xa rồi. Đâu rồi hỡi vòng tay?" Hai câu trong một câu lục, nói lên hai điều: Trước hết là khẳng định "Xa rồi"- Nghĩa là tình yêu quá khứ đã không còn nữa hoặc có thể "chia xa" - Có lẽ trắc trở trong tình duyên, một sự trắc trở không ít của các cặp vợ chồng trong cuộc sống...Nhưng có thể khẳng định rằng nhân vật trữ tình trong bài thơ thật sự cô độc. Ý thứ hai trong câu này là một câu hỏi tu từ! "Vòng tay" "không còn" không phải hỏi mà khẳng định! Điệpngữ "xa rồi" vừa nhấn mạnh vừa khẳng định kết quả cuộc chia tay, không phải tiếc nuối mà là xót xa, quặn thắt!
Ý thơ trải dài, lời thơ cô đọng, tình thơ mênh mang pha chút xót xa chua xót! Hai câu kết khiến người đọc không thể không "cầm lòng" cuốn hút theo tâm trạng tưởng chừng lơ lửng của người thơ: "Bây giờ cô lẻ một mình/ Cầm lòng sao đặng khi bình minh lên?" Lại kết thúc bằng câu hỏi tu từ nhưng lần này khác với tâm trạng trước. Chính câu hỏi kết bài này giúp bài thơ nâng tầm tư tưởng, hướng niềm cô đơn khát khao cháy bỏng trở nên tích cực hơn, ấm áp hơn. "Khi bình minh lên" chính là lúc mặt trời xua đi giá lạnh, mang lại sự ấm áp cho vạn vật, có cả con người. Và hy vọng mặt trời anh cũng mang lại ấm áp cho tình yêu!

Bài thơ nhẹ nhàng, sâu lắng, đằm thắm nhưng để lại trong lòng người đọc có nỗi buồn xa xót, có tin yêu về tương lai, có hạnh phúc đợi chờ, có bình minh ấm áp của cuộc sống! Với tôi, đây là một bài thơ hay đáng trân trọng!
10.01.2010
L.B.D

Thứ Ba, 14 tháng 8, 2012

Đan Áo Cho Chồng - T.T.KH.



"Chị ơi ! Nếu chị đã yêu.
Đã từng lỡ hát ít nhiều đau thương,
                        Đã xa hẳn quãng đường hương,
                        Đã đem lòng gởi gió sương mịt mùng.


                        Biết chăng chị? Mỗi mùa đông,
                        Đáng thương những kẻ có chồng như em,
                        Vẫn còn thấy lạnh trong tim,
                        Đan đi đan lại áo len cho chồng.


                        Như con chim hót trong lồng,
                        Hạt mưa nó rụng bên song bơ thờ.
                        Tháng ngày nổi tiếng tiêu sơ,
                        Than ôi! Gió đã sang bờ ly tan...


                        Tháng ngày miễn cưỡng em đan,
                        Kéo dài một chiếc áo len cho chồng.
                        Như con chim nhốt trong lồng,
                        Tháng ngày mong đợi ánh hồng năm nao!

                        Ngoài trời mưa gió xôn xao,
                        Ai đem khóa chết chim vào lồng nghiêm?
                        Ai đem lễ giáo giam em?
                        Sống hờ trọn kiếp trong duyên trái đời ...


                        Lòng em khổ lắm chị ơi!
                        Trong bao tủi cực với lời mỉa mai.
                        Quang cảnh lạ, tháng năm dài,
                        Đêm đêm nghĩ tới ngày mai giật mình!"
                        
                        TTKH                        

Thứ Hai, 13 tháng 8, 2012

ĐỌC “ GỌI THẦM” THƠ THÁI QUỐC MƯU - Châu Thạch


                    Châu Thạch

Gọi thầm

Thái Quốc Mưu


Xuân về, nắng rũ, chiều buông,
Cây trơ trụi lá, nỗi buồn quấn quanh.
Nỗi riêng, riêng ủ một mình.
Trong u ẩn - Một bóng hình đọng tâm.

Nỗi buồn, buồn vọng xa xăm,
Nỗi thương, nỗi nhớ nặng quằn tháng năm.
Nỗi chua xót, trĩu trịt hồn,
Nỗi ray rức gậm lần mòn trong ta.
Nỗi niềm, ta lại với ta,
Nỗi đau, nung nấu thiết tha nghìn trùng.
Nỗi sầu dệt sợi mông lung.
Nỗi chua xót - Bỏ trời Xuân lạc loài.
Đêm dài, giấc ngủ mồ côi,
Gọi thầm - Thầm gọi: “Mình ơi là mình!”
                                                   
 TQM

* Chú: Đầu Xuân ở Mỹ hoa lá chưa đơm cành

Lời bình: Châu Thạch

Hồi học ở cấp hai tôi đã được thầy cho thuộc lòng đoạn thơ từ câu thứ 1035 đến 1054 trong truyện Kiều của Nguyễn Du với đầu đề là “Trước lầu Ngưng Bích”. Trong phần giảng văn thầy dạy rằng đây là một đọan thơ tuyệt vời diễn tả tâm trạng của nàng Kiều khi ngồi trên lầu Ngưng Bích. Kiều nhớ đến Kim Trọng, nhớ đến cha mẹ và nghĩ đến thân phận nước chảy bèo trôi của mình mà nỗi buồn cứ dâng lên, dâng lên. Khi nỗi buồn của nàng đã dâng lên đến cực độ thì lúc ấy nó biến thành tiếng sóng ầm ầm vây quanh ghế ngồi khiến Thúy Kiều đã như người bất tỉnh:

                
                “Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
                 Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”


Hôm nay, gần 50 năm sau, tôi đọc được bài thơ “Gọi Thầm” của Thái quốc Mưu làm tôi bỗng nhiên nhớ lại đọan thơ “Trước lầu Ngưng Bích” trong truyện Kiều.

Tôi không dám so sánh nhà thơ Thái quốc Mưu với thần thơ Nguyễn Du, nhưng tất nhiên tâm trạng của Thúy Kiều và tâm trạng của Thái quốc Mưu hay của tất cả ai trong chúng ta cũng có thể giống nhau khi mà cuộc đời gặp phải chua cay, sầu nhớ.

“Gọi Thầm” là một bài thơ mà nỗi buồn quyện lên, quyện lên và cứ quyện lên mãi cho đến khi tác giả phải kêu lên tiếng kêu đau thương: “Mình ơi là mình!”.

Với hai câu thơ mở đầu nhà thơ Thái quốc Mưu đã vẽ một bức tranh ước lệ toàn cảnh mùa xuân ở nơi xa lạ mà quê hương không có, và ông đã khéo léo lồng ngay vào khung cảnh đó nỗi buồn ray rức của ông:

Chiều về, nắng rũ, chiều buông

Cây trơ trụi lá, nỗi buồn quấn quanh

Tôi biết nhà thơ Thái quốc Mưu định cư tại Mỹ quốc. Vậy thì đây là mùa xuân trên đất khách, xa quê hương và nỗi buồn ở đây có thể đặt tên là nỗi buồn diệu vợi.

Với bốn chữ “Nắng rũ, chiều buông” ta đã có thể thấy hết được cái ảm đạm của buổi chiều. Đã thế, giữa cái khung cảnh vàng vọt đó nhà thơ phát họa thêm “Cây khô trụi lá” khiến cho bức tranh lại càng thêm vắng vẻ, cô liêu hơn nữa. Thế rồi nhà thơ thêm một tiếng thở dài “Nỗi buồn quẩn quanh” để bức tranh trở thành sống nhờ cái âm thanh từ cõi lòng con người trùm lên phong cảnh. Từ đây nỗi buồn có điểm tựa và nó bắt đầu dâng lên như nước lũ trong tâm tư u uẩn của người:

Nỗi riêng, riêng ủ một mình

Trong u ẩn - Một bóng hình đọng tâm
Nỗi buồn, buồn vọng xa xăm
Nỗi thương, nỗi nhớ nặng quằn tháng năm


Đây là một người cô đơn đến tận cùng sự cô đơn: Nỗi buồn, nỗi thương, nỗi nhớ riêng ủ một mình, đọng lại trong tâm, hướng về nơi xa xăm và nặng quằn trong năm tháng. Chưa hết đâu, bốn câu thơ trên chỉ là những vòng xóay đầu tiên của một chiếc đinh ốc đóng vào lòng người. Và còn nhiều vòng xoáy của chiếc đinh ốc đau thương sau đây:

Nỗi chua xót, trĩu trịt hồn

Nỗi ray rức gậm lần mòn thịt da

Nhà thơ đã gánh cái gánh nỗi buồn quá nặng, lại còn chịu cơn đau dày vò, gậm nhấm trong tâm can nữa. Hãy tưởng tượng con người đó đang quằn mình xuống vì vừa nặng vừa đau và cô đơn đi trong một buổi chiều xế bóng. Hãy tưởng tượng đó là cây đinh đau thương với những vòng ốc bén nhọn đóng sâu vào con tim tác giả. Nếu tôi là nhi nữ chắc chắn rằng tôi sẽ rớm lệ ở đây.

  
Vẫn chưa hết, cái đinh ốc còn nhiều vòng xoáy, và nó tiếp tục đóng lút vào con tim cô đơn kia ở những vần thơ kế tiếp:


                        Nỗi niềm, ta lại với ta

                        Nỗi đau, nung nấu thiết tha nghìn trùng
                        Nỗi sầu dệt sợi mông lung
                        Nỗi chua xót- Bỏ trời Xuân lạc loài


Nỗi niềm, nỗi đau, nỗi sầu, nỗi chua xót là những nhát búa đóng mạnh trên cây đinh nhọn kia, và từng nhát búa cứ vô tình đóng xuống để tiếng kêu đau thương phát ra liên tục, dồn đập như tiếng mưa, tiếng sấm ào ào làm quằn quại cả không gian. Thái quốc Mưu không thể là người tạo ra sấm sét được, nhưng Thái quốc Mưu là người có thể kêu lên tiếng đau thương của lòng mình giống như tiếng mưa rơi, sấm sét .  

Khi nỗi đau lên đến tột cùng là lúc nhà thơ thốt tiếng kêu buồn não nuột:


                        Đêm dài- giấc ngủ mồ côi

                       Gọi thầm- Thầm gọi: “Mình ơi là mình!”

Có thể tác giả không thốt lên bằng lời, hay có thể thốt lên bằng lời nho nhỏ. Đó đúng là một phản ứng đạp đổ nỗi buồn nhưng than ôi, chỉ là một tiếng kêu tuyệt vọng.

                        “Mình ơi là mình”

Có thể “Mình ơi!” là vợ, có thể “Mình ơi!” là người yêu và cũng có thể “Mình ơi!” là chính tác giả bài thơ. Dầu “Mình ơi!” là ai thì tâm trạng tác giả bây giờ chẳng khác chi tâm trạng của nàng Kiều trên lầu Ngưng Bích mà Nguyên Du đã kết lại như sau:

                 “Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

“Gọi Thầm” là một bài thơ dồn đập những âm thanh khắc khoải phát ra từ một con tim cô đơn đã từng mang biết bao nhiều điều bi lụy của cuộc đời.

Đọc “Gọi Thầm” tôi không thấy tôi trong đó, nhưng tôi cảm phục vô cùng những tâm hồn mang nỗi đớn đau, vì tôi biết tâm hồn họ cao thượng hơn tôi và đẹp hơn tôi rất nhiều ./.

Châu Thạch