Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2012

Năm anh em trên một chiếc xe tăng - Hữu Thỉnh



Năm anh em trên một chiếc xe tăng,
Như năm bông hoa nở cùng một cội,
Như năm ngón tay trên một bàn tay,
Ðã xung trận cả năm người như một.

Ha ha! Vào lính xe tăng anh trước anh sau,
Cái nết ở ăn mỗi người một tính,
Nhưng khi hát ta hòa cùng một nhịp,
Một người đau ta tất cả quên ăn.
Năm anh em mỗi đứa một quê,
Ðã lên xe ấy là cùng một hướng,
Nổ máy lên là một dạ xung phong,
Trước quân thù lòng chỉ biết có tấn công.
Ha ha! Năm anh em ta mang năm cái tên,
Ấy khi lên xe không còn tên riêng nữa,
Trên tháp pháo một ngôi sao màu lửa,
Năm quả tim chung nhịp đập ơ dồn.
Một con đường đất đỏ như son,
Một màu rừng xanh bạt ngàn hy vọng,
Một ý chí bay ra đầu ngọn súng,
Một niềm tin chiến thắng trong trận này.

Hữu Thỉnh

Năm anh em trên một chiếc xe tăng

Trình bày: Lương Gia Huy

Những dòng kinh phèn đã xa -Trần Minh Tạo


"đời bồn chậu nên quên dần bơi lội"

                                             
đồng sâu quê tôi thưở ấy lắm kinh phèn
mùa nước đổ kênh trong ngần như lọc
những dòng kênh rong rêu nằm xỏa tóc
con cá chài đuôi đỏ lội tung tăng


những trưa hè nắng lửa ngập vàng sân
buồn lặn ngụp cả người vào kênh tắm
kênh xanh rờn
kênh xa thẳm
kênh dịu dàng mát rượi cánh tay dang

những dòng kênh tuôn chảy từ quê làng
tôi đã hết một thời chơi tóe nước
tôi muốn ngâm mình vào dòng kênh thửa trước
biết bao giờ về lại cánh đồng xa

những dòng kênh nhiều lúc nhớ muốn khóc òa
đời bồn chậu nên quên dần bơi lội
kênh phèn cũ trong ngần không cần nói
tôi thấy cả trời có mây trắng đang bay

tuổi ba mươi con nắng quá nửa ngày
những dòng kênh chảy hoài qua nuối tiếc
kênh phèn trong xanh lòng vừa nhận biết
là lúc qua rồi thuở mặt nước như gương

những dòng kênh phèn xin một chút nhớ thương
xin một chút lắng hồn và tưởng niệm
dù hiểu đã trôi đi mùa trăng vàng âu yếm
tôi vẫn đắm hồn tắm mãi nước kênh xa…

                      Đồng Tháp    1987

Tiểu sử Lưu Trọng Lư


Lưu Trọng Lư là người làng Cao Lao Hạ, xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Ông sinh trưởng trong một gia đình quan lại xuất thân nho học. Thuở nhỏ, ông học trường tỉnh, rồi học ở Huế (đến năm thứ ba tại trường Quốc học Huế) và Hà Nội. Sau đó, ông bỏ học đi dạy tư, làm văn và làm báo để kiếm sống.

Năm 1932, ông là một trong những nhà thơ khởi xướng và tích cực cổ vũ cho Phong trào Thơ mới.
Năm 1933-1934, ông chủ trương Ngân Sơn tùng thư ở Huế.
Năm 1941, ông và thơ ông được Hoài Thanh và Hoài Chân giới thiệu trong quyển Thi nhân Việt Nam.
Sau Cách mạng tháng Tám (1945), ông tham gia Văn hóa cứu quốc ở Huế. Những năm kháng chiến chống Pháp, ông tham gia hoạt động tuyên truyền, văn nghệ ở Bình Trị Thiên và Liên khu IV.
Sau 1954, ông công tác ở Bộ Văn hóa và làm Tổng Thư ký Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam. Năm 1957, ông là hội viên Hội nhà văn Việt Nam.
Năm 1991, Lưu Trọng Lư mất tại Hà Nội. Ông đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2000.

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Thứ Năm, 7 tháng 6, 2012

Thuyền và Biển - Xuân Quỳnh



Em sẽ kể anh nghe
Chuyện con thuyền và biển:


"Từ ngày nào chẳng biết
Thuyền nghe lời biển khơi
Cánh hải âu, sóng biếc
Đưa thuyền đi muôn nơi



Lòng thuyền nhiều khát vọng
Và tình biển bao la
Thuyền đi hoài không mỏi
Biển vẫn xa... còn xa


Những đêm trăng hiền từ
Biển như cô gái nhỏ
Thầm thì gửi tâm tư
Quanh mạn thuyền sóng vỗ


Cũng có khi vô cớ
Biển ào ạt xô thuyền
(Vì tình yêu muôn thuở
Có bao giờ đứng yên?)


Chỉ có thuyền mới hiểu
Biển mênh mông nhường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu, về đâu


Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau - rạn vỡ


Nếu từ giã thuyền rồi
Biển chỉ còn sóng gió"


Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bão tố

4-1963 



Thơ phổ Nhạc:  Thuyền và Biển Nhạc Phan Huỳnh Điểu - Ca sĩ Bảo Yến

                                          
                                              

Thứ Tư, 6 tháng 6, 2012

Tiểu sử Xuân Diệu


Xuân Diệu tên thật là Ngô Xuân Diệu, sinh ngày 2 tháng 2, 1916 tại Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Cha là ông Ngô Xuân Thọ (giáo viên), người làng Trảo Nha, Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh và mẹ là bà Nguyễn Thị Hiệp.
Xuân Diệu lớn lên ở Qui Nhơn. Sau khi tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học tư và làm viên chức ở Mĩ Tho (nay là Tiền Giang), sau đó ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn, là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn (1938-1940). Ông tốt nghiệp cử nhân Luật 1943 và làm tham tá thương chánh ở Mỹ Tho một thời gian trước khi chuyển về ở Hà Nội.
Bên cạnh sáng tác thơ, ông còn tham gia viết báo cho các tờ Ngày Nay và Tiên Phong. Ông là một trong những người sáng lập Đoàn báo chí Việt Nam, nay là Hội Nhà báo Việt Nam.
Trong sự nghiệp sáng tác thơ văn của mình, Xuân Diệu được biết đến như là một nhà thơ lãng mạn trữ tình, “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”, “ông hoàng của thơ tình”.


Xuân Diệu là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn và cũng đã là một trong những chủ soái của phong trào “Thơ Mới”. Tác phẩm tiêu biểu của ông ở giai đoạn này: Thơ Thơ (1938), Gửi Hương Cho Gió (1945), truyện ngắn Phấn Thông Vàng (1939).
Năm 1944, Xuân Diệu tham gia phong trào Việt Minh. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông hoạt động trong Hội văn hóa cứu quốc, làm thư ký tạp chí Tiền phong của Hội. Sau đó ông công tác trong Hội văn nghệ Việt Nam, làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ ở Việt Bắc.
Từ đó, Xuân Diệu trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu ca ngợi cách mạng, một “dòng thơ công dân”. Bút pháp của ông chuyển biến phong phú về giọng vẻ: có giọng trầm hùng, tráng ca, có giọng chính luận, giọng thơ tự sự trữ tình. Tiêu biểu là: Ngọn Quốc Kỳ (1945), Một Khối Hồng (1964), Thanh Ca (1982), Tuyển Tập Xuân Diệu (1983).
Là cây đại thụ của nền thi ca hiện đại Việt Nam, Xuân Diệu đã để lại khoảng 450 bài thơ (một số lớn nằm trong di cảo chưa công bố), một số truyện ngắn, và nhiều bút ký, tiểu luận, phê bình văn học.
Xuân Diệu từng là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I. Ông còn được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hòa dân chủ Đức năm 1983.
Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật (1996).
Ông mất ngày 18 tháng 12, 1985.

Tình cát - Kha Tiệm Ly



(Gởi T..)

Chẳng phải con đò neo bến nước,
Mà bao lần tiễn khách sang sông.
Đắng cay nêm vị đời chua chát,
Nên chút heo may cũng lạnh lùng.


Và từ đó ta làm thân hạt cát,
Mặc gió đời vùi dập biết bao phen.
Mượn sức gió vút lên trời cao ngất,
Mơ thành mưa ve vuốt má môi em.

Nhặt từng chiếc lá vàng rơi rụng,
Để vá quàng một khối hồn đau.
Lại ôm ấp thêm mảnh tình vô vọng,
Nên đời ta toàn rượu nhạt, thơ sầu!

Từ muôn kiếp ta là thân hạt cát,
Mượn gió đời tim một cõi phiêu diêu.
Rồi lốc xoáy lại cuốn về sa mạc,
Nên ngàn đời không tìm được hương yêu!

Em muôn thuở vẫn là hoa thơm ngát,
Ta như bình sành mượn chút hơi men.
Và mãi mãi vẫn là thân hạt cát,
Mượn gió đời mà bám gót chân em!

KTL

Thứ Ba, 5 tháng 6, 2012

Màu Tím Hoa Sim - Hữu Loan


Nàng có ba người anh đi bộ đội 
Những em nàng Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân xa gia đình 
Yêu nàng như tình yêu em gái
 Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới

Tôi mặc đồ quân nhân đôi giày đinh bết bùn đất hành quân 
Nàng cười xinh xinh bên anh chồng độc đáo 
Tôi ở đơn vị về 
Cưới nhau xong là đi 
Từ chiến khu xa 
Nhớ về ái ngại 
Lấy chồng thời chiến binh 
Mấy người đi trở lại 
Nhỡ khi mình không về thì thương người vợ chờ
bé bỏng chiều quê...
Nhưng không chết người trai khói lửa
 Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng 
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối 
Chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh ngắn chưa đầy búi 
Em ơi giây phút cuối không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím 
áo nàng màu tím hoa sim 
Ngày xưa một mình đèn khuya bóng nhỏ 
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa...
Một chiều rừng mưa 
Ba người anh trên chiến trường đông bắc 
Được tin em gái mất trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên 
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị 
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân 
Qua những đồi hoa sim 
Những đồi hoa sim 
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết 
Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt 
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa 
Áo anh sứt chỉ đường tà 
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu 
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau 
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai 
Tôi hát trong màu hoa 
Áo anh sứt chỉ đường tà 
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu... 
Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm 
Tím tình ơi lệ ứa 
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành 
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn 
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím 
Tôi ví vọng về đâu 
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu...
Hữu Loan 
(1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)


Màu Tím Hoa Sim - Thơ:Hữu Loan - Giọng Ngâm: Tô Kiều Ngân


Màu Tím Hoa Sim - Hoàng Oanh

Thể loại: Trữ Tình

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

Tha La xóm đạo - Vũ Anh Khanh





Đây Tha La xóm đạo,
Có trái ngọt, cây lành.
Tôi về thăm một dạo,
Giữa mùa nắng vàng hanh,
Ngậm ngùi, Tha La bảo:
- Đây rừng xanh, rừng xanh,
Bụi đùn quanh ngõ vắng,
Khói đùn quanh nóc tranh,
Gió đùn quanh mây trắng,
Và lửa loạn xây thành.


Viễn khách ơi! Hãy dừng chân cho hỏi
Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng

Đây Tha La, một xóm đạo ven rừng.
Có trái ngọt, cây lành im bóng lá,
Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ
Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ!
Về chi đây! Khách hỡi! Có ai chờ?
Ai đưa đón?
Xin thưa, tôi lạc bước!

Không là duyên, không là bèo kiếp trước,
Không có ai chờ, đưa đón tôi đâu!
Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu,
Tìm hoa rụng lạc loài trên vệ cỏ.
Nghìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió
Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng.
Nhìn hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng
Tha La hỏi: - Khách buồn nơi đây vắng?
- Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng!

- Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn?
Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn.
Gió vun vút, gió rợn rùng, gió rít,
Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch:
- Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Bao người đi thề chẳng trở lại nhà
Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!
Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán
Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa
Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa
Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh
Khách rùng mình, ngẩn ngơ người hiu quạnh
- Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Đây mênh mông xóm đạo với rừng già
Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách.
Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch.
Gặp cụ già đang ngắm gió bâng khuâng
Đang đón mây xa... Khách bỗng ngại ngần:
- Kính thưa cụ, vì sao Tha La vắng?
Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng,
Nhẹ bảo chàng: "Em chẳng biết gì ư?
Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù!

Người nước Việt ra đi vì nước Việt
Tha La vắng vì Tha La đã biết,
Thương giống nòi, đau đất nước lầm than".

***

Trời xa xanh, mây trắng nghẹn ngàn hàng
Ngày hiu quạnh. ờ...Ơ...Hơ... Tiếng hát,
Buồn như gió lượn, lạnh dài đôi khúc nhạc.
Tiếng hát rằng:
Tha La hận quốc thù,
Tha La buồn tiếng kiếm.
Não nùng chưa! Tha La nguyện hy sinh
ờ... Ơ... Hơ... Có một đám Chiên lành
Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy
Quỳ cạnh chúa, đám Chiên lành run rẩy:
- Lạy đức Thánh Cha!
Lạy đức Thánh Mẹ!
Lạy đức Thánh Thần
Chúng con xin về cõi tục để làm dân...

Rồi... cởi trả áo tu,
Rồi... xếp kinh cầu nguyện
Rồi... nhẹ bước trở về trần...
Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!
Người hãy ngừng chân,
Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé!
Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ
Trời Tha La vần vũ đám mây tang,
Vui gì đâu mà tâm sự?
Buồn làm chi cho bẽ bàng!
ờ... Ơ... Hơ...ờ... ơ Hơ... Tiếng hát;
Rung lành lạnh, ngân trầm đôi khúc nhạc,
Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi!
Tha La thương người viễn khách quá đi thôi!

***

Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ
Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ.
Lá rừng cao vàng rụng lá rừng bay...
Giờ khách đi. Tha La nhắn câu này:
- Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!
Hãy về thăm xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tha La dâng ngàn hoa gạo
Và suối mát rừng xanh
Xem đám Chiên hiền thương áo trắng
Nghe trời đổi gió nhớ quanh quanh... 

Vũ Anh Khanh

Nguồn LNT

Vào chùa - Đồng Đức Bốn

 


Đang trưa ăn mày vào chùa 
Sư ra cho một lá bùa rồi đi 
Lá bùa chẳng biết làm gì 
Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày.



Đồng Đức Bốn




Nguồn LNT

Tiếng Thu - Lưu Trọng Lư



Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh người chinh phụ
Trong lòng người cô phụ?


Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô.

Lưu Trọng Lư




Nguồn LNT

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

Tiểu sử Hàn Mặc Tử



Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ở làng Lệ Mỹ, Đồng HớiQuảng Bình; lớn lên ở Quy Nhơn, tỉnh Bình Định trong một gia đình theo đạo Công giáo. 
Hàn Mặc Tử có duyên với 4 chữ Bình: sinh tại Quảng Bình, làm báo Tân Bình, có người yêu ở Bình Thuận và mất tại Bình Định. Tổ tiên Hàn Mặc Tử gốc họ Phạm ở Thanh Hóa. Ông cố là Phạm Chương vì liên quan đến quốc sự, gia đình bị truy nã, nên người con trai là Phạm Bồi phải di chuyển vào Thừa Thiên Huế đổi họ Nguyễn theo mẫu tánh. 

Sinh ra ông Nguyễn Văn Toản lấy vợ là Nguyễn Thị Duy ( con cụ Nguyễn Long, ngự y có danh thời vua Tự Đức), sinh hạ được 8 người con: 1-Nguyễn Bá Nhân ( tức nhà thơ Mộng Châu) cũng là người dìu dắt Hàn Mặc Tử trên con đường thơ văn. 2- Nguyễn Thị Như Lễ. 3- Nguyễn Thị Như Nghĩa. 4- Nguyễn Trọng Trí (tức nhà thơ Hàn Mặc Tử). 5- Nguyễn Bá Tín ( người dời mộ Hàn Mặc Tử từ Quy Hòa về Ghềnh Ráng vào ngày 13-02-1959). 6- Nguyễn Bá Hiếu ; 2 người em út: Nguyễn Văn Hiền và Nguyễn Văn Thảo.
Hàn Mặc Tử mang vóc mình ốm yếu, tính tình hiền từ, giản dị, hiếu học và thích giao du bè bạn trong lĩnh vực văn thơ. Do thân phụ là ông Nguyễn Văn Toản làm thông ngôn, ký lục nên thường di chuyển nhiều nơi, nhiều nhiệm sở, nên Hàn Mặc Tử cũng đã theo học ở nhiều trường khác nhau như Sa Kỳ (1920), Qui Nhơn, Bồng Sơn (1921-1923), Pellerin Huế (1926).